Ảnh ngẫu nhiên

0214.gif 0216.gif Gian_khoan_HD_981.jpg Taukhutrucmytuantrabiendong4.jpg Datam0.jpg Images1003458_T_u_h_i_c_nh_c_a_Trung_Qu_c__ph_i__ch_y_song_song__p_h__ng_t_u_ki_m_ng__Vi_t_Nam__tr_i_.jpg 6e80b5.jpg Xxxximage002_hkkf.jpg 20bucanhtocaosuhunghandiencuongcuavoirongtrungquoc.jpg 688553590.jpg Thiennhien1namknablogspotcom.jpg Hinh0037.jpg Greenrosenewfullfullinit_.jpg Dragon16.jpg PHONG_CHO_BAN.jpg Rose.gif 810.jpg Hinh0218.jpg Hinh0106.jpg 96.jpg

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Vì tương lai con em Sông Đầm!.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    SKKN CẤP TỈNH

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Anh Toản (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:07' 25-11-2010
    Dung lượng: 158.5 KB
    Số lượt tải: 163
    Số lượt thích: 0 người

    MỤC LỤC

    Đặt vấn đề.
    Trang 2
    
    Lý do chọn đề tài.
    Trang 2
    
    Thực trạng.
    Trang 2
    
    Những biện pháp.
    Trang 3
    
    Cơ sở xuất phát các biện pháp giải quyết vấn đề.
    Trang 3
    
    2- Biện pháp:
    Trang 4
    
    3- Tác động của biện pháp:
    Trang 7
    
    Kết quả và việc phổ biến ứng dụng vào thực tiễn.
    Trang 8
    
    1- Kết quả:
    Trang 8
    
    2- Phổ biến và ứng dụng:
    Trang 8
    
    Phần nhận xét đánh giá, xếp loại
    Trang 9
    
    











    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
    DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở BẬC THCS
    I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
    1- Lý do chọn đề tài:
    Tiếng việt có nguồn gốc từ lâu đời, nhưng do nhiều nguyên nhân lịch sử xã hội nên ở thời Pháp thuộc, nước ta phải dùng Hán ngữ làm ngôn ngữ Quốc gia, Hán học được lấy làm Quốc học. Tiếng Việt trong thời kỳ này phần lớn được dùng trong giao tiếp sinh hoạt đời thường. Tiếng Việt và tiếng Hán có cùng một loại hình đơn lập, âm tiết tính. Hệ thống âm điệu và thanh điệu khá gần gũi. Phương thức tạo từ cũng nặng về ghép từ đơn thành từ phức. Vì vậy việc vay mượn từ Hán thuận tiện hơn nhiều so với việc vay mượn từ ngữ của các ngôn ngữ Ấn Âu. Trong khi giảng dạy từ Hán Việt ở bậc THCS giáo viên không thể không dùng tiếng Việt để giải thích, đặc biệt người Việt vừa giàu tinh thần dân tộc, vừa yêu chuộng thơ văn. Do tiếng Việt và tiếng Hán có cùng một loại hình, hệ thống âm vị thanh điệu không hoàn toàn xa lạ nhau nên các nhà thơ nhà văn đều có thể vận dụng thi pháp Hán vào sáng tác như: Thể phú, tế, cáo, hịch…. Song các thể cáo, hịch, tế… được đưa vào trong chương trình THCS sẽ gây rất nhiều khó khăn cho học sinh về việc nhận biết nội dung bài học nếu các em không hiểu nghĩa các từ ngữ Hán Việt.
    Để học sinh cảm thụ các thể văn được tốt, hiểu được các từ ngữ Hán Việt và vận dụng trong nói viết thì việc dạy - học từ Hán Việt trong trường THCS là rất quan trọng. Vì thế người giáo viên dạy văn cần chú trọng đến việc giảng dạy từ Hán Việt trong trường THCS.
    2- Thực trạng:
    a/ Thuận lợi:
    Ngày nay Tiếng Việt lên ngôi chính thống, việc nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài theo tân học thì Tiếng việt lại mượn hàng loạt từ ngữ học thuật của tiếng Hán đặc biệt là các bộ môn văn hóa xã hội. Từ gốc Hán trong lớp từ văn hóa của Tiếng việt đã chiếm tới 70%. Trong các văn bản hành chính có mật độ từ gốc Hán rất cao. Cũng do được vay mượn theo con đường học thuật mà các từ ngữ Hán Việt mang tính trang trọng so với từ Việt đồng nghĩa như: Phụ nữ/đàn bà, nhi đồng/trẻ em, sinh/đẻ, tử/chết…
    Với nét nghĩa sắc thái ấy, từ Hán Việt không chỉ là những đơn vị định danh bổ sung cho kho từ Tiếng việt mà còn có khá nhiều trường hợp tồn tại như những đơn vị đồng nghĩa rất cần thiết làm phong phú thêm sự biểu đạt của người Việt.
    b/ Khó khăn:
    Tần số từ Hán Việt khá cao trong chương trình THCS, trong các bài văn, bài thơ, trong các lời ăn tiếng nói hàng ngày. Vì thế việc dạy- học từ Hán việt quả là một khó khăn cho giáo viên và học sinh.
    Sách và đồ dùng dạy - học rất ít, nhiều từ Hán Việt khó giải thích, từ đó việc tiếp thu từ Hán Việt của học sinh rất khó khăn.
    Dân trí càng nâng cao thì ngôn ngữ giao tiếp càng vận dụng nhiều từ ngữ thuộc lớp từ văn hóa – khoa học - kỹ thuật, càng dùng nhiều đến từ Hán Việt. Trong khi đó sự nhận biết về từ ngữ gốc Hán của học sinh thì quá hạn hẹp. Phương pháp dạy từ Hán Việt trong trường THCS chưa được cụ thể hóa.
    Học sinh không coi trọng việc học từ Hán Việt, học với hình thức đối phó nên các em không biết giải nghĩa từ Hán Việt gây nhiều khó khăn cho quá trình tiếp nhận các văn bản. Bên cạnh đó các tài liệu có liên quan đến việc dạy - học từ Hán Việt còn hạn chế vì vậy học sinh chưa nắm bắt được hệ thống ngữ nghĩa của từ Hán Việt.
    Để khắc phục những khó khăn trên theo tôi giáo viên dạy bộ môn phải tự học hỏi tìm ra các phương pháp riêng phù hợp với đặc trưng của kiểu bài, phù hợp với đối tượng học sinh trong quá trình dạy từ Hán Việt.
    II. NHỮNG BIỆN PHÁP:
    1- Cơ sở xuất phát các biện pháp giải quyết vấn đề:
    Trong trường THCS hiện nay phương pháp dạy từ Hán Việt chưa được cụ thể hóa, chủ yếu là dạy theo hình thức áp đặt thầy giải thích – trò lắng nghe chưa đi sâu vào việc tìm hiểu ngữ nghĩa, mở rộng vốn từ của từ Hán Việt. Vốn từ và việc sáng tạo tìm tòi của học sinh thì hạn chế dẫn đến tiết dạy trở nên khô khan, học sinh không hứng thú học. Trong khi đó vốn từ lại rất quan trọng với các em không chỉ trong lĩnh vực giao tiếp mà còn quan trọng trong quá trình cảm thụ và phân tích từ ngữ Hán Việt trong thơ văn.
    Trong các văn bản hành chính mật độ từ Hán Việt chiếm khá cao.
    Ví dụ: Trong đoạn văn sau phần lớn là sử dụng từ Hán Việt.
    “Căn cứ đề nghị của Ban văn hóa tư tưởng Trung ương, Bộ văn hóa thông tin và sự nhất trí của Thủ tướng Chính phủ, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định thành lập nhà xuất bản chính trị Quốc gia”.
    Trong khẩu ngữ của người dân giờ đây cũng sử dụng khá nhiều từ Hán Việt.
    Ví dụ: “Hợp tác xã đã hoàn thành kế hoạch thủy lợi hóa đúng điều độ đã thông qua”.
    Như vậy từ Hán Việt đã được sử dụng rất rộng rãi, song phải hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa, phải sử dụng đúng nơi, đúng đối tượng thì nó mới trở nên hay.
    Không phải mọi từ gốc Hán đều là từ Hán Việt, từ thời Tây Hán tiếng Hán lúc bấy giờ có hình thức ngữ âm còn quá cổ. Ví dụ: Buồm (phàm), buồng (phòng), buồn (thuyền), cả (giá), chém (trảm), lìa (ly)….
    Hiện nay chúng ta xem những từ gốc Hán vay mượn từ xa xưa đó như là từ thuần Việt. Lại có những từ gốc Hán vừa mới mượn gần đây phát âm theo ngôn ngữ Quảng Đông thì không được xem là từ Hán Việt. Ví dụ: Húng lìu (hương liệu), mì chính (vị tinh)… những từ trong ngoặc là cách gọi Hán Việt.
    Trở thành một bộ phận của tiếng Việt, từ Hán Việt hoạt động dưới sự chi phối của các quy luật ngữ nghĩa và ngữ pháp tiếng Việt.
    Ví dụ 1: Phong trào trong tiếng Hán có ba nghĩa: Hướng gió (1), gió xoáy ngoài khơi (2), sự việc diễn ra sôi nổi trong cùng một thời kỳ (3). Trong đó tiếng Việt chỉ có nghĩa thứ ba.
    Ví dụ 2: Từ khôi ngô trong tiếng Hán có nghĩa to, cao; vào tiếng Việt nó có nghĩa là thông minh sáng sủa.
    Người Việt còn dùng các hình vị Hán để tạo nên nhiều từ Hán Việt mà tiếng Hán không tạo từ như thế. Ví dụ: Bác sĩ (đại phu quan), dược tá (tư dược viên), đại tá (thượng hiệu), kỹ sư (công trình sư), nghĩa lý (đạo lý), phát thanh (bá âm)…
    Để nhận biết từ Hán Việt, hiểu sâu về nó thì rất là khó, vì từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại hầu hết đều có hình thức hai tiếng ghép lại, tiếng nào cũng có nghĩa, về cấu tạo từ ghép Hán Việt cũng tương tự như cấu tạo các từ ghép tiếng Việt nên dễ bị nhầm lẫn.
    Vì vậy trong quá trình dạy tiếng Việt giáo viên cần phải xác định được những mặt tích cực, mặt hạn chế của học sinh để có những biện pháp thiết thực giúp các em hứng thú học tập và tiếp thu từ Hán Việt một cách dễ dàng.
    2- Biện pháp:
    Qua thời gian tìm hiểu nghiên cứu trong quá trình giảng dạy thực tiễn, bản thân tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm và các biện pháp dạy học từ Hán Việt cụ thể như sau.
    2.1. Nhận diện từ Hán Việt:
    Có ba cách nhận diện từ Hán Việt.
    Cách 1: Tra từ điển Hán - Việt.
    Cách 2: Từ Hán Việt là những tiếng mà âm tiết hoàn toàn có thể sử dụng như một từ bất kể chúng có nguồn gốc nào như: Đầu, gan, tim, áo, quần, kính, bút…
    Cách 3: Là những tiếng tuy có nghĩa nhưng không có khả năng sử dụng như một từ, nhưng có khả năng tạo từ phức rất lớn.
    Ví dụ: - Thiên, địa, thủy, hỏa, vân, vũ, kiến…
    - Địa chất, địa bàn, địa chỉ…
    - Kiến tập, kiến tạo, kiến thiết, kiến nghị…
    - Thiên bẩm, thiên mệnh, thiên nhiên, thiên thời…
    Từ ghép Hán Việt hiện nay là từ ghép được tạo bởi các đơn vị theo cách nhận biết thứ ba, từ đó suy ra nếu một từ phức nào được ghép bởi hai đơn vị tức là loại đơn vị không tự nó được dùng như một từ, thì từ phức đó chính là từ Hán Việt.
    Từ ghép Hán Việt cũng có loại ghép hợp nghĩa như từ tiếng Việt, trong từ ghép hợp nghĩa các từ tố đầu cùng từ loại và tạo nên từ mới có nghĩa tổng hợp như trường hợp từ ghép hợp nghĩa tiếng việt. Ví dụ: Quốc gia, văn nghệ, chiến đấu, học tập…
    Trong từ ghép phân nghĩa thì trật tự cú pháp ngược với từ ghép Hán Việt: Yếu tố bổ sung đứng trước, yếu tố được bổ sung đứng sau. Ví dụ: Chủ quan (quan là yếu tố được bổ sung), nội hóa (hàng nội), chiến hạm (tàu chiến)…
    Tiếng Việt của chúng ta phần lớn mượn gốc Hán, bởi các từ Hán Việt mang tính trang trọng tạo cho tiếng Việt thêm phong phú và giàu đẹp hơn. Như vậy việc dạy học từ Hán Việt trong trường THCS có vai trò rất lớn, hướng các em biết dùng từ đặt câu, nghe, nói, viết đúng và hay, phù hợp với đối tượng hoàn cảnh giao tiếp.
    Để đạt được những điều nêu trên người giáo viên phải có tâm huyết nhiệt tình giảng dạy, có thể vận dụng các cách nhận diện các từ Hán Việt để dạy cho học sinh hiểu, giúp các em biết cách phân tích, giải nghĩa từ Hán Việt, phân biệt từ Hán Việt.
    Ngoài ra giáo viên phải học hỏi, tìm tòi các phương pháp hữu hiệu phù hợp để giảng dạy đối với từng kiểu bài, với từng đối tượng học sinh để đạt hiệu quả cao.
    2.2. Quy trình dạy từ Hán Việt:
    * Khi dạy từ Hán Việt trước tiên người giáo viên phải nhận thức được kiểu bài và lượng kiến thức trong bài dạy để định hình một tiết dạy.
    Ví dụ: Trong một tiết dạy từ Hán Việt có các từ: Phong cảnh, châu thổ, thủy tinh, thiên nhiên, không khí, thị xã, kĩ sư, nông gia, giai nhân, cường tráng, thanh minh… Ngoài giải nghĩa từ thì giáo viên cần phải mở rộng các từ ngữ Hán Việt cho học sinh hiểu.
    Yêu cầu của bài dạy từ Hán Việt gồm có ba nội dung:
    1. Làm cho học sinh hiểu rõ ngữ nghĩa của các từ được học.
    2. Đi sâu vào ngữ nghĩa của từng từ tố, trên cơ sở đó mở rộng vốn từ Hán Việt theo quan hệ cấu tạo từ mới có chung một từ tố.
    3. Luyện tập
    * Trong quá trình dạy từ Hán Việt, để giúp học sinh nắm vững ngữ nghĩa cũng như phương thức cấu tạo của từ, mở rộng từ theo quan hệ cấu tạo từ (hoặc theo quan hệ đồng âm) và luyện tập dùng từ mới học thì giáo viên phải thực hiện theo trình tự ba bước như sau:
    Bước 1:
    (1) giáo viên dùng bảng phụ viết một văn cảnh hoặc đặt câu có chứa từ Hán Việt để giới hạn ngữ nghĩa của từ đó. Ví dụ: Lần đầu tiên Tôi đến thăm vịnh Hạ Long, nơi đây phong cảnh thật hữu tình.
    Giáo viên dùng câu hỏi nhận biết yêu cầu học si
     
    Gửi ý kiến